Thông báo kết quả xét tuyển viên chức sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo thị xã Ba Đồn, năm 2019Thông báo xét tuyển công chức Chỉ huy trưởng quân sự xã Quảng Thủy, thị xã Ba Đồn năm 2019Công văn chủ động ứng phó với Áp thấp nhiệt đới trên biển đôngCông điện khẩn về phòng chống cơn bão số 4Quyết định về việc ban hành Kế hoạch tuyển dụng công chức cấp xã, thị xã Ba Đồn năm 2018Thông báo công khai về việc lựa chọn tổ chức đấu giá tài sảnThông báo thời gian, địa điểm kiểm tra sát hạch xét tuyển viên chức sự nghiệp giáo dục và đào tạo thị xã Ba Đồn năm 2018Kế hoạch Tổ chức các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân đón Tết Nguyên đán Mậu Tuất năm 2018Công văn V/v tăng cường thực hiện Nghị định số 36/2009/NĐ-CP về quản lý, sử dụng pháoCông văn về việc đôn đốc, rà soát, đánh giá kết quả xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luậtKế hoạch Thực hiện Chỉ thị số 14-CT/TW, ngày 19/7/2017 của Ban Bí thư Trương ương Đảng và Chỉ thị số 13-CT/TU ngày 28/02/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạngCông văn v/v khẩn trương chấm dứt hoạt động của một số bến bãi tập kết cát lòng sông tự phát dọc sông GianhChỉ thị về việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm năm học 2017 - 2018Quyết định về việc phê duyệt Thiết kế Bản vẽ thi công và dự toán xây dựng Công trình Hạ tầng kỹ thuật tạo quỹ đất khu dân cư phía Nam đường Hùng Vương, thị xã Ba Đồn.Quyết định về việc giao Chủ đầu tư dự án Nâng cấp hệ thống đê, kè bảo vệ bờ sông và trồng rừng ngập mặn để ứng phó với biến đổi khí hậu các xã bãi ngang, cồn bãi thuộc thị xã Ba Đồn.Báo cáo danh mục dự án kêu gọi thu hút đầu tư trên địa bàn thị xã Ba Đồn giai đoạn 2016 - 2020Quyết định về việc ấn định và công bố số đơn vị bầu cử, danh sách đơn vị bầu cử, số đại biểu HĐND thị xã Ba Đồn được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử, nhiệm kỳ 2016 - 2021Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Kế hoạch thực hiện Chỉ thị 35 của Bộ Chính trị và Luật Tiếp công dân
ĐẤU THẦU - MUA SẮM CÔNG
Vui lòng chọn mẫu hiển thị

Bình chọn

Theo bạn thông tin nội dung website thế nào ?

Phong phú đa dạng
Dễ sử dụng
Hữu ích

230 người đã tham gia bình chọn

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 6

  • Hôm nay 1880

  • Tổng 3.078.271

  

Phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trong chuyển đổi số

Xem với cỡ chữ : A- A A+

TG) - Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 1/7/2014 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế” đã thúc đẩy mạnh mẽ việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cũng xác định: “Thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số; làm thay đổi phương thức quản lý nhà nước, mô hình sản xuất kinh doanh, tiêu dùng và đời sống văn hóa, xã hội”.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI SÁNG TẠO, NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH QUỐC GIA

 Cùng với nội dung được nhấn mạnh trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện trình Đại hội lần thứ XIII: “Thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số để tạo bứt phá về nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế”, cụm từ “chuyển đổi số” đã được nhắc tới 21 lần trong các văn kiện Đại hội XIII. Trước đó, ngày 3/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg, phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.

Thực tiễn chuyển đổi số trên thế giới trong những năm gần đây đã và đang giúp các quốc gia đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, tăng năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Công nghệ thông tin (CNTT) được xác định là một phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi số, nhằm cung cấp các công nghệ cơ bản, góp phần thay đổi toàn diện cả về tổ chức, quy trình kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp đến sự tham gia của con người trong quá trình thực hiện. Vì vậy, phát triển và ứng dụng CNTT trong chuyển đổi số là hết sức cần thiết trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Việc hoàn thiện kết cấu hạ tầng CNTT - nền tảng thúc đẩy quá trình chuyển đổi số có vai trò hết sức quan trọng, là động lực cơ bản đảm bảo triển khai có hiệu quả các công nghệ và dịch vụ của kinh tế số, từ đó thúc đẩy hoạt động chuyển đổi số quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế số Việt Nam.

Trong giai đoạn 2011-2020, hạ tầng CNTT ở Việt Nam đã được đầu tư, phát triển; công tác nghiên cứu, phát triển ứng dụng CNTT đạt được bước tiến lớn với sự tham gia của nhiểu ngành, sự vào cuộc và quyết tâm của cả hệ thống chính trị. Cùng với một số thương hiệu viễn thông, CNTT đứng trong top 500 của thế giới như Viettel, FPT... nhiều thành tựu trong lĩnh vực CNTT đã được khẳng định, đóng vai trò quyết định trong quá trình chuyển đổi số.

Doanh thu lĩnh vực công nghiệp công nghệ thông tin (ICT) của Việt Nam trong 5 năm qua liên tục tăng trưởng cao, từ gần 103 tỷ USD năm 2018 lên hơn 124,67 tỷ USD năm 2020 và 136,15 tỷ USD vào năm 2021. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu phần cứng, điện tử năm 2022 ước đạt 136 tỷ USD, tăng 11,6% so với năm 2021; xuất siêu hơn 26 tỷ USD. Trong bảng xếp hạng Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu GII 2021, Việt Nam xếp thứ 44 trên 132 quốc gia/nền kinh tế. Trong nhóm 34 quốc gia có thu nhập trung bình thấp được đưa vào danh sách xếp hạng GII năm 2021, Việt Nam tiếp tục giữ vị trí đứng đầu... Chỉ số phát triển viễn thông của Việt Nam năm 2021 xếp hạng 74/176 nước, tăng ba hạng so với năm 2020. Các nhà mạng Viettel, VNPT, Mobifone đều đã được cấp phép cung cấp dịch vụ Mobile Money.

Có thể nói, hạ tầng CNTT phát triển đồng bộ là “xương sống” giúp việc chuyển đổi số được thuận lợi và hiệu quả. Đến năm 2020, hạ tầng viễn thông quốc gia đã phủ rộng khắp toàn quốc, kể cả các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Chất lượng hạ tầng CNTT, viễn thông ngày càng được nâng cao. Việt Nam hiện có 72,7 triệu người sử dụng Internet, đạt tỷ lệ 73,2% dân số, là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12 trên thế giới. Hạ tầng băng rộng di động đã phủ sóng 99,73% số thôn trên toàn quốc. Hệ thống cáp quang đã triển khai tới 100% các xã, phường, thị trấn, 91% thôn bản, 100% trường học. Có hơn 564.000 tên miền “.vn”, đứng thứ 2 ASEAN, top 10 khu vực châu Á - Thái Bình Dương...

Các cơ quan Đảng, Nhà nước; bộ, ban, ngành Trung ương; địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hầu hết đều có mạng thông tin nội bộ, sử dụng CNTT vào hoạt động quản lý, điều hành, nhiều tổ chức có website riêng. Báo điện tử, trang thông tin điện tử; thương mại điện tử xuất hiện ngày càng nhiều...

Hạ tầng dữ liệu quốc gia ngày càng phát triển trong cả khu vực công và khu vực tư. Một số cơ sở dữ liệu quy mô quốc gia đã hình thành và phát huy hiệu quả trong cung cấp dịch vụ trực tuyến như cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, về đăng ký doanh nghiệp, cơ sở dữ liệu hộ gia đình tham gia bảo hiểm, cơ sở dữ liệu ngành thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội,… Trong khu vực doanh nghiệp, cùng với đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ số là sự phát triển, hình thành các cơ sở dữ liệu lớn phục vụ khách hàng, kinh doanh.

Hệ thống xác thực điện tử cũng được đầu tư phát triển. Hiện nay, cả nước đã có 12 doanh nghiệp được cấp phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cho người dân, doanh nghiệp, giúp thực hiện các giao dịch trên mạng thuận tiện, an toàn, đặc biệt là giúp các doanh nghiệp sử dụng được các dịch vụ công trực tuyến mức độ cao (mức 3, 4) trong các lĩnh vực thuế, hải quan, bảo hiểm...

Những kết quả đạt được nêu trên xuất phát từ các nguyên nhân chủ yếu: 1) Tác động của các cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng của Nhà nước, đặc biệt là các chính sách về phát triển hạ tầng băng thông rộng, hạ tầng CNTT - truyền thông…; 2) Sự quan tâm, tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng của Nhà nước; thu hút vốn đầu tư xã hội hóa từ khu vực tư nhân và các thành phần kinh tế trong xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng cho phát triển kinh tế số; 3) Quá trình cải cách, giảm các thủ tục hành chính trong cấp phép viễn thông, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển hạ tầng mạng viễn thông; 4) Quản lý chặt chẽ, hiệu quả, đảm bảo đúng tiến độ, sử dụng công nghệ quản lý, công nghệ thi công hiện đại của một số dự án đầu tư kết cấu hạ tầng…

NHỮNG HẠN CHẾ, BẤT CẬP

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát triển và ứng dụng CNTT cho chuyển đổi số ở Việt Nam còn không ít những hạn chế, bất cập, nhất là trước các yêu cầu mới hiện nay. Cụ thể là:

Một là, tốc độ, chất lượng hạ tầng CNTT chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển Internet vạn vật, thành phố thông minh, phương tiện tự động, sản xuất thông minh…; việc tiếp cận dịch vụ di động băng thông rộng khu vực nông thôn, miền núi còn hạn chế. Sự kết nối trên thực tế không tương thích với tốc độ kết nối trong môi trường ảo; hạ tầng vật lý chưa đáp ứng yêu cầu ứng dụng các phương thức quản lý thông minh, điều khiển tự động, từ xa; hệ thống mạng 5G mới đang ở giai đoạn thử nghiệm, chưa được thương mại hóa và phổ cập ở diện rộng. Nhiều công nghệ lõi nước ta chưa làm chủ, còn phải phụ thuộc nguồn cung từ bên ngoài…

Hai là, hệ thống hạ tầng, cơ sở dữ liệu quy mô quốc gia tạo nền tảng cho chuyển đổi số còn phân tán, thiếu, chưa được chuẩn hóa đồng bộ, khai thác hạn chế; việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia còn chậm; việc kết nối, chia sẻ các cơ sở dữ liệu của cả khu vực công và tư còn nhiều bất cập; kết nối, liên thông số và năng lực kết nối giữa các hạ tầng vẫn còn ở mức thấp và chưa thống nhất; trang bị kỹ thuật cho thu thập, lưu trữ, xử lý dữ liệu còn ít, chưa đồng bộ; an toàn, an ninh mạng chưa được đảm bảo...

Ba là, lượng dữ liệu được xây dựng trong cơ quan nhà nước còn hạn chế, tản mát, rời rạc; chưa được thống nhất quản lý.

Bốn là, hạ tầng thanh toán số chưa đồng bộ, chưa tận dụng được hạ tầng chung, mức độ phủ rộng chủ yếu tại các khu vực thành thị; hạ tầng thanh toán số trên di động đã được triển khai nhưng phạm vi chưa tương xứng với tiềm năng thị trường; các hình thức thanh toán điện tử còn hạn chế.

Những hạn chế, bất cập trên xuất phát từ những nguyên nhân: 1) Chưa nhận thức đúng vai trò, tầm quan trọng của kết cấu hạ tầng cho chuyển đổi số, đặc biệt là hạ tầng dữ liệu, hạ tầng thanh toán số; dữ liệu chưa thực sự được coi trọng đúng mức trong quá trình xây dựng và khai thác; 2) Một số cơ chế, chính sách về tài chính, đầu tư, giải phóng mặt bằng, đối tác công tư (PPP) chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, còn phức tạp, khiến không ít nhà đầu tư băn khoăn, e ngại; quy chế, quy định về chia sẻ dữ liệu chưa rõ ràng và thiếu tính thống nhất…; 3) Công nghiệp phụ trợ, năng lực nghiên cứu, phát triển công nghệ và chế tạo thiết bị trong nước còn hạn chế, dựa nhiều vào nguồn nhập khẩu, giá và chi phí đầu tư cao; 4) Cơ chế, chính sách thu hút nguồn lực ngoài nhà nước tham gia đầu tư kết cấu hạ tầng chưa thực sự phát huy tác dụng, hiệu quả; thủ tục vay vốn trong và ngoài nước vẫn còn phức tạp…; 5) Việc triển khai thực hiện một số dự án chậm tiến độ, kéo dài do: thiếu vốn đầu tư; vướng mắc về bồi thường, giải phóng mặt bằng; năng lực của chủ đầu tư, đơn vị xây dựng, thi công còn hạn chế…

PHẢI ĐỔI MỚI TƯ DUY VÀ HÀNH ĐỘNG

Đại hội XIII của Đảng xác định định hướng trong lĩnh vực chuyển đổi số: “Phát triển nhanh và bền vững, dựa chủ yếu vào khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phải đổi mới tư duy và hành động, chủ động nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 gắn với quá trình hội nhập quốc tế để cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế số, xã hội số và coi đây là nhân tố quyết định nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh”. Văn kiện Đại hội XIII cũng khẳng định, cùng với sự phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ (KH-CN) và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là một trong ba trụ cột thực hiện phát triển nhanh, phát triển bền vững; đồng thời là một trong những khâu đột phá lớn, góp phần “tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh”.

Nhằm đẩy mạnh phát triển, ứng dụng và hoàn thiện khả năng sẵn sàng ứng dụng CNTT cho chuyển đổi số, trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp cơ bản:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của chuyển đổi số phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, nâng cao đời sống nhân dân trong giai đoạn mới; đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác định hướng dư luận xã hội về công tác chuyển đổi số; tăng cường công tác thông tin và truyền thông về chuyển đổi số.

Thứ hai, tiếp tục rà soát, tháo gỡ các rào cản trong các thể chế, chính sách và pháp luật để đẩy mạnh đầu tư phát triển và ứng dụng CNTT cho chuyển đổi số, gắn liền với phát triển kinh tế số, chuyển đổi số. Hoàn thiện cơ chế giám sát, quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư đối với từng dự án phát triển kết cấu hạ tầng. Xây dựng thể chế cho việc hình thành, kết nối, chia sẻ và thương mại hóa các cơ sở dữ liệu quốc gia. Xây dựng cơ chế thu phí khai thác dữ liệu để củng cố và mở rộng dữ liệu của cơ quan nhà nước; hoàn thiện cơ chế phối hợp, hợp tác giữa Nhà nước và doanh nghiệp để xây dựng dữ liệu. Xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan về bảo mật dữ liệu người dùng, an ninh, an toàn thông tin nhằm tạo dựng môi trường giao dịch số an toàn, tin cậy. Hoàn thiện cơ chế, chính sách về tài chính, đầu tư đối với doanh nghiệp đầu tư, phát triển, ứng dụng kết cấu hạ tầng CNTT cho chuyển đổi số.

Thứ ba, rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng cho phát triển kinh tế số, chuyển đổi số phải bảo đảm hiệu quả tổng hợp và tính hệ thống, nhất là mạng lưới điện, hạ tầng viễn thông và CNTT, hạ tầng dữ liệu. Xây dựng danh mục các dự án ưu tiên đầu tư, các cơ chế, chính sách chung và chính sách riêng đối với các dự án cụ thể (như các công trình viễn thông, CNTT, dữ liệu lớn,…). Thực hiện chuyển đổi hạ tầng viễn thông sang hạ tầng CNTT. Đẩy nhanh quá trình xây dựng, hoàn thiện quy hoạch phát triển hạ tầng băng thông rộng quốc gia, hạ tầng điện toán đám mây, quản trị dữ liệu quốc gia, hạ tầng dịch vụ định danh và xác thực điện tử tin cậy.

Thứ tư, tiếp tục huy động các nguồn vốn đầu tư từ mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước để phát triển nâng cấp, xây dựng mới đồng bộ kết cấu hạ tầng, trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại cho chuyển đổi số. Trong huy động các nguồn lực cần có cơ chế, chính sách đặc thù để huy động và bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người dân. Chú trọng việc huy động nguồn vốn đầu tư tư nhân do ưu điểm của hạ tầng CNTT - truyền thông là có thể thu hồi vốn, tạo ra nguồn thu nhanh từ bán buôn băng thông. Điều này sẽ giúp thu hút vốn đầu tư từ khu vực tư nhân vào lĩnh vực này. Ngoài ra, có cơ chế, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực CNTT, điện tử viễn thông; có chính sách ưu đãi các dự án đầu tư nước ngoài sử dụng công nghệ “cao, mới, sạch, tiết kiệm”,…
Thứ năm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong quản lý, vận hành hạ tầng CNTT, hạ tầng cơ sở dữ liệu. Tích cực đổi mới sáng tạo, phát triển KH-CN trong ngành CNTT - truyền thông để tăng nội địa hóa, làm chủ công nghệ, thiết bị, giúp cắt giảm chi phí nhập khẩu, mua thiết bị từ bên ngoài. Ưu tiên nguồn vốn KH-CN, nguồn vốn từ các chương trình quốc gia để phát triển công nghệ cao, phát triển sản phẩm, dịch vụ, giải pháp nội địa... phục vụ xây dựng, phát triển ứng dụng CNTT cho chuyển đổi số./.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin ở Việt Nam nhằm chuyển đổi sang mô hình phục vụ lấy người dân, doanh nghiệp là trung tâm, hướng tới nền hành chính hiện đại, minh bạch đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội của đất nước.


TS. VÕ THÀNH PHONG - TS. NGÔ ĐÌNH SÁNG
Ban Tuyên giáo Trung ương

https://tuyengiao.vn/khoa-giao/khoa-hoc/phat-trien-va-ung-dung-cong-nghe-thong-tin-trong-chuyen-doi-so-145589

Nguồn tin: Tạp chí của Ban Tuyên giáo Trung ương:

Các tin khác